Nâng cao chất lượng giáo dục từ việc đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá

ĐBP - Năm học 2011-2012, là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; là năm tiếp tục thực hiện chủ đề Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục.

Phổ cập tin học là đích mà ngành GD-ĐT Điện Biên hướng tới. Ảnh: Nguyên Hà

Trên cơ sở những giải pháp đã thực hiện tốt trong năm học cũ, ngành Giáo dục - Đào tạo tỉnh đã đưa ra nhiều giải pháp trọng tâm, thiết thực, phù hợp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Nhiều vấn đề lớn của nền giỏo dục Việt Nam đó được bạn đọc lờn tiếng và mong được người đứng đầu ngành giỏo dục giải đỏpKhâu đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục là đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá chất lượng -  ông Lê Văn Quý, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo chia sẻ với bạn đọc báo Điện Biên Phủ về những vấn đề đặt ra trong năm học 2011-2012.

Phóng viên: Tại kỳ họp thứ 2, HĐND tỉnh khoá XIII, UBND tỉnh đánh giá: 5 năm qua, lĩnh vực giáo dục - đào tạo đã đạt nhiều thành tựu song chất lượng trong giáo dục - đào tạo chưa đồng đều. Theo ông, chất lượng giáo dục đào tạo không đồng đều ở đây nên được hiểu như thế nào? Biểu hiện cụ thể ra sao?

Ông Lê Văn Quý:  Chất lượng giáo dục - đào tạo không đồng đều là đánh giá về thực trạng giáo dục và đào tạo của tỉnh Điện Biên (được trình bày trong kỳ họp thứ 2, HĐND tỉnh khoá XIII). Biểu hiện cụ thể của chất lượng giáo dục đào tạo chưa đồng đều của tỉnh: Ở vùng thuận lợi chất lượng giáo dục đào tạo cao; ở vùng đặc biệt khó khăn còn một bộ phận học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức của cấp học, lớp học. Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng này là do: sự chênh lệch về điều kiện kinh tế, trình độ dân trí giữa các vùng; nguồn lực đầu tư chưa theo kịp yêu cầu phát triển quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, hệ thống trường học thiếu khá nhiều phòng học kiên cố, thư viện, thiết bị, phòng học bộ môn, phòng công vụ, nhà nội trú học sinh; tỷ lệ học sinh bỏ học và đi học không chuyên cần còn cao; việc chuẩn bị tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, bồi dưỡng, phụ đạo cho học sinh yếu kém hiệu quả chưa cao; đội ngũ giáo viên còn thiếu ở cấp mầm non, tiểu học và một số môn cấp THPT .

Phóng viên: Chất lượng giáo dục - đào tạo không đồng đều có thể coi là một căn bệnh trong giáo dục trên địa bàn tỉnh? Ông nhận định về căn bệnh này như thế nào?

Ông Lê Văn Quý: Chất lượng giáo dục đào tạo không đồng đều không phải là căn bệnh mà là một thực trạng cần khắc phục của ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên.

Có thể khẳng định rằng chất lượng giáo dục - đào tạo chưa đồng đều giữa các vùng trong tỉnh là một khoảng cách không dễ xóa bỏ. Tuy vậy, trong những năm qua, ngành Giáo dục - Đào tạo Điện Biên đã, đang thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục nhằm từng bước nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc.

Phóng viên: Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, ngành giáo dục - đào tạo đã có những biện pháp đột phá nào? Theo ông, biện pháp nào là quan trọng và cần thiết hơn cả trong năm học 2011-2012?

Ông Lê Văn Quý: Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, ngành giáo dục - đào tạo tập trung thực hiện đồng bộ các biện pháp sau: Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với thực hiện cuộc vận động Hai không và phong trào thi đua  Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực Tích cực tham mưu để các cấp uỷ đảng, chính quyền, các đoàn thể và cả hệ thống chính trị vào cuộc cùng ngành giáo dục huy động tối đa trẻ em trong độ tuổi đến trường; vận động, giáo dục, thuyết phục đề học sinh không bỏ học giữa chừng, đi học chuyên cần. Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giáo dục. TIẾP TỤC TĂNG CƯỜNG KỶ CƯƠNG, nền nếp trong quản lý dạy học, kiểm tra đánh giá, thi cử. Tập trung chỉ đạo và thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá. Tổ chức rà soát, phân loại, thực hiện bồi dưỡng, phụ đạo cho học sinh yếu kém, tăng cường chất lượng tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số.

Phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý và giảng dạy. Tích cực áp dụng hình thức tổ chức hội nghị, hội thảo, tập huấn, trao đổi công tác qua mạng internet, tăng cường sử dụng văn bản điện tử trong ngành. Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục, tăng cường phối hợp giữa gia đình - nhà trường - xã hội để giáo dục toàn diện học sinh.

Trong các biện pháp trên, việc tập trung chỉ đạo và thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá; tổ chức rà soát, phân loại, thực hiện bồi dưỡng, phụ đạo cho học sinh yếu kém, dạy tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số được ngành tập trung thực hiện trong năm học 2011-2012.

Phóng viên: Thưa ông, không ít giáo viên than phiền về áp lực công việc, nhiều giáo viên đã chuyển và bỏ nghề. Có giáo viên cho rằng chương trình dạy quá nặng nên không còn thời giờ rèn luyện phẩm chất cho học sinh? Ông nhận định về việc này như thế nào?

Ông Lê Văn Quý: Theo thống kê của Sở Giáo dục và Đào tạo, 9 tháng đầu năm 2011, ở khối THPT, bổ túc THPT và Trường CĐSP tỉnh có 21/1.990 giáo viên xin chuyển ngành, chiếm tỷ lệ 1,06%, không có giáo viên bỏ việc. Việc giáo viên than phiền về áp lực công việc là có nhưng đây không phải là nguyên nhân chính dẫn đến việc giáo viên xin chuyển ngành. Một bộ phận giáo viên chuyển công tác chủ yếu là do yêu cầu nhiệm vụ công tác của các cấp, các ngành; đây là một vấn đề bình thường của xã hội.

Năm học 2011-2012, thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục - Đào tạo, Sở Giáo dục - Đào tạo đã có Văn bản số 1285/SGDĐT-GDTrH về việc hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học giáo dục phổ thông nhằm điều chỉnh, giảm tải chương trình giáo dục phổ thông trên cơ sở phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện thực tế. Việc giáo dục đạo đức, rèn luyện phẩm chất cho học sinh được chú trọng, thông qua giảng dạy các môn văn hóa, các môn học Đạo đức, Giáo dục công dân và các hoạt động ngoại khoá. Theo đó, thông qua các bài dạy và các hoạt động ngoại khóa, giáo viên kích thích, khơi dậy lòng yêu thích bộ môn, say mê nghiên cứu, khám phá khoa học, bồi dưỡng nhân sinh quan và thế giới quan khoa học qua môn học, từ đó hình thành nhân cách, lý tưởng sống tốt đẹp, rèn luyện phẩm chất cho học sinh; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

Phóng viên: Năm học 2011-2012, số học sinh bỏ học sau hè, nhất là ở bậc tiểu học và THCS vẫn còn, ngành đã đưa ra một số giải pháp nhằm đưa các em trở lại trường. Vậy kết quả ra sao? Theo ông, giải pháp nào có tính quyết định đối với việc khuyến khích học sinh ra lớp và học tập chuyên cần?

Ông Lê Văn Quý: Theo thống kê sơ bộ, tính đến thời điểm 30/8/2011, tổng số học sinh bỏ học đầu năm học 2011-2012 là 649/144.969  học sinh, chiếm 0,45% (số học sinh bỏ học giảm 0,14% so với cùng kỳ năm học 2010-2011), trong đó: tiểu học: 194 học sinh; THCS: 327 học sinh; THPT: 128 học sinh. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng học sinh bỏ học là do hoàn cảnh gia đình khó khăn không có điều kiện để tiếp tục đi học. Một số em ở cuối cấp THCS và THPT là lao động chính trong gia đình. Những học sinh bỏ học đa số thuộc diện học lực yếu kém, nhận thức của các em rất yếu, một số lười học không theo kịp chương trình, một số học tiếng Việt yếu, tiếp thu chậm dẫn đến tình trạng chán học và bỏ học. Địa bàn tỉnh rộng, giao thông đi lại khó khăn, các trường ở vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn thiếu nhà nội trú cho học sinh ở xa. Nhiều học sinh đi học xa nhà, phải tự làm lán, nhà tạm ở gần trường và tự tổ chức cuộc sống dưới sự hướng dẫn của nhà trường để theo học. Do quan niệm và một số tập tục lạc hậu, một số em học sinh (đa số là học sinh nữ) bỏ học để lấy chồng.

Ngành giáo dục - đào tạo phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, gia đình học sinh, các tổ chức xã hội có liên quan trong việc giáo dục học sinh, đặc biệt vận động học sinh bỏ học trở lại lớp học. Đồng thời,  tích cực tuyên truyền nhận thức cho nhân dân các dân tộc về trách nhiệm của gia đình đối với việc học tập của con em, nâng cao dân trí. Cùng với đó là giải quyết đầy đủ, kịp thời các chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho học sinh dân tộc thiểu số, học sinh vùng khó khăn; tích cực vận động, huy động thêm kinh phí từ bên ngoài, các loại quỹ học bổng để hỗ trợ thêm điều kiện học tập cho học sinh; đầu tư kinh phí xây dựng nhà nội trú, bán trú cho học sinh; từng bước cải thiện đời sống học sinh bán trú. Việc nâng cao ý thức trách nhiệm của các nhà giáo, nhà quản lý giáo dục; thực hiện tốt công tác giúp đỡ, phụ đạo học sinh học lực yếu, kém nhằm khắc phục hiện tượng chán học... được ngành coi là biện pháp hữu hiệu giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học.

Phóng viên: Xin cảm ơn ông!

Nguyên Hà (thực hiện) 

Bình luận

Bình luận

Nội dung của trường dữ liệu này được giữ kín và sẽ không được hiển thị công khai.
  • Các địa chỉ web và email sẽ tự động được chuyển sang dạng liên kết.
  • Các thẻ HTML được chấp nhận: <a> <em> <strong> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd>
  • Tự động ngắt dòng và đoạn văn.

Thông tin thêm về các tùy chọn định dạng

CAPTCHA
Hãy nhập lại hình ảnh và số vào ô ở dưới
Image CAPTCHA

Các tin tức khác