Thoái vốn đầu tư ngoài ngành tại các tập đoàn: Không dễ!

Định giá tài sản, thương thuyết với chủ nợ về phần vốn vay sẽ được dịch chuyển… là những vướng mắc lớn nhất khi thoái vốn.

Hiện tại, qui mô vốn trung bình của một tập đoàn Nhà nước so với thế giới là không lớn. Theo nguyên Bộ trưởng Kế hoạch - Đầu tư Trần Xuân Giá, qui mô vốn của tập đoàn kinh tế nhà nước là khá nhỏ so với thế giới, nhưng lại là con số rất lớn so với qui mô nền kinh tế, GDP của Việt Nam”.

11 tập đoàn kinh tế nhà nước đang nắm giữ tới 30% tổng giá trị tài sản, 51% tổng vốn chủ sở hữu và gần 40% lao động của khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Chính bởi thế, nếu đầu tư dàn trải, đa ngành thì sẽ bị phân tán nguồn lực, làm cho các tập đoàn nhà nước xa rơi mục tiêu chính yếu của mình. Hơn nữa, sự non kém về kinh nghiệm quản trị kinh doanh ở những lính vực mới cũng là nguyên nhân khiến việc đầu tư ngoài ngành của các tập đoàn là “lỗ nhiều hơn lãi”.

 

EVN Telecom là một điển hình về đầu tư ngoài ngành bị thua lỗ

Theo tinh thần Nghị quyết TƯ 3, Khóa XI, trước năm 2015, sẽ chấm dứt tình trạng các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đầu tư dàn trải ra ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính.

Thoái vốn – những cái khó  đặt ra

Bất kể một sự xáo trộn nào cũng gây khó khăn trong công tác quản trị của doanh nghiệp. Và cái khó nhất khi các DNNN thực hiện thoái vốn chính là phía nhận đầu tư.

“Một số lĩnh vực đầu tư ngoài ngành lấy ngoài để nuôi trong thì giờ đây thực sự khó khăn. Hoặc có DN đầu tư ra ngoài để kiếm ít lời tăng thu nhập của lĩnh vực sản xuất chính nếu bây giờ cắt đi thì cũng sẽ có khó khăn cho DN. Tất nhiên, khi được thì được đấy, nhưng có những lĩnh vực bây giờ thoái vốn thì thoái một cục nợ to đùng, cân đối tài chính khó khăn” – nguyên Bộ trưởng Trần Xuân Giá nói.

Còn một vướng mắc nữa được các chuyên gia tài chính đưa ra là chủ nợ ở những doanh nghiệp sáp nhập, giải thể, chia tách… có chấp nhận phương án đưa ra hay không. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp chỉ có khoảng 30% vốn tự có, còn lại là đi vay. Đã đi vay thì khi thoái vốn đồng nghĩa với việc thoái cả công nợ. Trong khi đó, các khế ước cho vay của chủ nợ qui định cực kỳ chặt chẽ. “Khi chuyển như vậy thì phải được chủ nợ đồng ý và không phải lúc nào người ta cũng đồng ý” – ông Trần Xuân Giá nói.

Còn theo TS Nguyễn Đình Cung, cần phải công khai, minh bạch phương án thoái vốn để có sự giải thích, vận động, đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan.

Ngoài ra, còn một vướng mắc nữa mà quá trình thoái vốn, cổ phần hóa lâu nay vẫn mắc phải đó là việc định giá tài sản. Theo các chuyên gia kinh tế, phương án hiệu quả nhất là phải đấu thầu, công khai để cho thị trường quyết định. Nếu không đấu thầu thì phải thuê các cơ quan định giá độc lập, có uy tín.

Ông Trần Xuân Giá đưa ra một ví dụ về định giá tại Nhà máy sản xuất xe đạp Phượng Hoàng (Trung Quốc). Riêng việc cổ phần Nhà máy sản xuất, công ty Phượng Hoàng đã phải thuê 12 chuyên gia của Mỹ làm việc liên tục trong 3 năm. Trước hết, Công ty này công khai các danh mục cổ phần hóa rồi sau đó niêm yết lên sàn giao dịch chứng khoán Thượng Hải rồi lại tiếp tục quay trở lại định giá.

“Đây là một việc rất khó, cần thời gian. Nếu thông thường thì không cần phải định giá chỉ cần đưa ra giá sàn rồi đấu giá. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng đấu giá được, bởi vì người mua quá ít. Bên cạnh đó, quy trình, quy chế tổ chức đấu giá phải hết sức chặt chẽ, nếu không sẽ dễ có chuyện thông đồng, thông thầu… Còn nếu định giá để bán, thì phải công khai, minh bạch, và phải có tổ chức định giá mạnh, độc lập thực hiện”.

Câu chuyện quản lý

Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng, sau tái cấu trúc, cổ phần hóa, thoái vốn… chúng ta phải hiểu đó là “bình cũ rượu mới”. Bởi cũng vẫn với sự quản lý của Nhà nước nhưng cách thức quản lý, đầu tư của mỗi doanh nghiệp phải khác nhau. Nhà nước cần phải phân biệt đó là loại doanh nghiệp gì thì mới có cách điều hành, điều tiết phù hợp.

“Tôi hy vọng, bây giờ đã thành chủ trương và giao cho Bộ Tài chính chủ trì thì cũng cần giao toàn quyền cho Bộ trưởng tài chính. Bộ trưởng phải chịu toàn bộ trách nhiệm. Đề án đó đã xong, đã được duyệt thì phải đôn đốc thực hiện. Thoái vốn ở đâu, như thế nào thì Bộ trưởng Tài chính phải chịu chứ không thể nói “chúng ta” một cách chung chung được” – ông Vũ Khoan nói.

Then chốt của mọi vấn đề vẫn là con người. Con người nghĩ ra đường lối, chủ trương, biện pháp và thực hiện. Nếu con người thực hiện không nghiêm chỉnh thì chẳng có gì chuyển biến được. Và thứ nữa, trong tái cấu trúc tập đoàn kinh tế, DNNN nói chung và thoái vốn nói riêng việc thống nhất được mục tiêu không phải là chuyện đơn giản.

Ngoài ra, theo chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành, Nhà nước nên nhìn thẳng vào sự thật là một số người không muốn hy sinh lợi ích nhóm của mình. Vì thế, họ không muốn cổ phần hóa hay thoái vốn, hay có bất kỳ sự thay đổi nào.

Cùng quan điểm này, TS Nguyễn Đình Cung cho rằng: “Thoái vốn thì sẽ có chỗ mất đi quyền lợi nhưng chúng ta phải đặt ra nguyên tắc là vì lợi ích chung của quốc gia, nền kinh tế. Trung ương, Chính phủ cần có sự chỉ đạo kiên quyết để đạt được mục tiêu đã đề ra. Việc thống nhất được mục tiêu mới là khó”.

Còn theo TS Trần Du Lịch – Đại biểu Quốc hội TP HCM, trong quá trình thoái vốn, cổ phần hóa DNNN cần giải quyết mối quan hệ giữa chủ sở hữu là toàn dân, đại diện Nhà nước, với hội đồng quản trị, hội đồng thành viên; chuyên nghiệp hóa của bộ máy điều hành thế nào, trách nhiệm ra sao, quyền và nghĩa vụ rõ ràng.

“Đáng lý ra tất cả những vấn đề này phải giải quyết trong một đạo luật về quản lý vốn kinh doanh Nhà nước” – ông Trần Du Lịch nói./.

Ông Trần Xuân Giá: Tập đoàn nhà nước sẽ hiện diện ở đâu?

Để thoái vốn đầu từ ngoài ngành của các tập đoàn, và xa hơn nữa là tái cấu trúc thành công khu vực DNNN, trước hết cần xác định phạm vi hiện diện của các doanh nghiệp này trong nền kinh tế. Từ đó, mới xác định mảng kinh doanh nào mà các tập đoàn được tiếp tục mở rộng, ngành, lĩnh vực nào họ phải rút vốn ngay.

Tôi cho rằng, DNNN chỉ cần và phải có mặt ở những nơi liên quan đến quốc phòng, an ninh, an toàn xã hội; những nơi rất cần cho sự phát triển đất nước mà tư nhân không muốn hoặc không thể làm… Còn lại, Nhà nước chỉ lo quản lý và thu thuế.

Theo tinh thần đó, nên giới hạn hoạt động của  DNNN trong các lĩnh vực: Các ngành liên quan đến quốc phòng và an ninh; các ngành cung cấp những hàng hóa và dịch vụ công thiết yếu cho nền kinh tế (giao thông, thủy lợi, năng lượng – những lĩnh vực tư nhân không muốn làm hoặc không thể làm); những ngành công nghiệp trụ cột, công nghệ cao; các ngành công nghiệp độc quyền tư nhiên.  “Nếu áp dụng nguyên tắc này thì ngay cả những tập đoàn Nhà nước trong các lĩnh vực như dệt may, cao su, bất động sản… cũng không nên được duy trì”- ông Giá nói.

Với tư cách là nhà đầu tư, Nhà nước sẽ không đầu tư thành lập doanh nghiệp để tìm lợi tức tài chính; không đầu tư góp vốn, thành lập doanh nghiệp để tìm kiếm địa tô; không đầu tư góp vốn, thành lập doanh nghiệp cạnh tranh với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trong các ngành, nghề, lĩnh vực mà khu vực kinh tế tư nhân có khả năng làm được.

 

Theo VOVNews

Bài bình luận

Bình luận

Nội dung của trường dữ liệu này được giữ kín và sẽ không được hiển thị công khai.
  • Các địa chỉ web và email sẽ tự động được chuyển sang dạng liên kết.
  • Các thẻ HTML được chấp nhận: <a> <em> <strong> <cite> <code> <ul> <ol> <li> <dl> <dt> <dd>
  • Tự động ngắt dòng và đoạn văn.

Thông tin thêm về các tùy chọn định dạng