Văn hóa Thái qua tín ngưỡng nông nghiệp

08:52 - Thứ Năm, 22/11/2018 Lượt xem: 5876 In bài viết

ĐBP - Là một thành viên trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tộc người Thái (cả hai ngành Thái đen và Thái trắng) nằm trong số những dân tộc mà nền văn minh gắn liền với kỹ thuật canh tác ruộng nước nói chung và cây lúa nước nói riêng. Quả thực, trong đời sống của người Thái, cây lúa không chỉ giúp cho việc duy trì sự sống mà còn được xem là dấu hiệu của trình độ văn minh, sự phát triển và thịnh vượng...

 

Cối gạo nước, một sản phẩm của nền văn minh Thái.  Ảnh: Thu Loan

Chẳng phải ngẫu nhiên mà trong kho tàng văn hóa dân gian của dân tộc Thái, không ít các truyền thuyết, trường ca, truyện cổ, câu đố, ca dao, tục ngữ, thành ngữ... đều ít hoặc nhiều, trực tiếp hoặc gián tiếp nói về cây lúa nước trong đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của đồng bào Thái. Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khảo cổ học đã khẳng định, ngay từ thời tiền sử người Thái ở Việt Nam đã biết trồng lúa nước và đạt tới một trình độ kỹ thuật nhất định. Nhiều dấu vết hóa thạch của vỏ trấu trên vùng đất có người Thái cư trú được tìm thấy qua các đợt khảo cổ có chủ đích, hoặc đơn giản là khi đào móng xây dựng các công trình dân dụng hay quân sự.

Với Ðiện Biên, hẳn nhiều người chúng ta chưa quên câu chuyện xung quanh việc những hóa thạch vỏ trấu được tìm thấy tại khu vực hồ U Va (thuộc địa phận bản U Va, xã Noong Luống, huyện Ðiện Biên), khi một nhóm thợ thi công khu du lịch khoáng nóng U Va đầu tháng 8/2003. Trong lúc đào một cái giếng vừa để lấy nước sinh hoạt vừa để lấy nước trộn bê tông (thời điểm đó hồ U Va không có nước như hiện nay), nhóm công nhân tình cờ phát hiện nhiều mảnh gốm có hoa văn lạ, một số mảnh sứ màu men ngọc. Ngoài ra, còn có các bình cổ, dây chuyền, cọc gỗ, mẫu thóc cháy và đặc biệt là một cá thể lưỡi cày sắt với kiểu dáng mà từ lâu rồi cả vùng Mường Thanh không thấy ai sử dụng. Theo nội dung “Báo cáo điều tra khảo cổ học” ngày 26/8/2003, của nhóm nghiên cứu Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn (Trường Ðại học Quốc gia Hà Nội) thì địa điểm này là nơi cư trú lâu đời của những cư dân cổ xưa ở Ðiện Biên. Các hiện vật cho biết họ đã ở vào trình độ phát triển cao và có thể có những hoạt động giao thương với bên ngoài. Những mảnh sứ màu men ngọc tương tự như những mẫu men sứ thời Lý (1010 - 1225), những hạt thóc cháy được xem là những di chỉ quý giá, góp phần làm sáng tỏ lịch sử phát triển cây lúa ở Ðiện Biên cũng như lịch sử cây lúa vùng Ðông - Nam Á.

Ông Lò Văn Thâng - một người Thái chính gốc hiện đang cư trú tại tổ dân phố 14, phường Nam Thanh (TP. Ðiện Biên Phủ), cho biết: Trên địa bàn tỉnh, thông thường ruộng nước được chia làm 2 loại cơ bản: Loại ruộng được khai phá trên những khu đất rộng, bằng phẳng hoặc tương đối bằng phẳng (tiếng Thái là “na tông”, tức cánh đồng lớn) chẳng hạn như cánh đồng Mường Thanh trong lòng chảo Ðiện Biên, là cánh đồng lớn nhất trong số các bồn địa nổi tiếng vùng Tây Bắc như câu ca “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc” mà mọi người đều biết. Ngoài ra, có một loại ruộng hẹp hơn về chiều ngang (và đương nhiên hẹp hơn về diện tích, thường gọi ruộng bậc thang) men theo các sườn đồi, lòng thung do người dân khai khẩn dạng tận dụng, tiếng Thái là “na hon”. Cho dù canh tác ở “na tông” hay “na hon” thì điều kiện bắt buộc và cũng là yêu cầu quan trọng nhất với cả 2 loại ruộng, là phải có nước và đủ nước nhất là vào mùa khô hanh. Ðã là cư dân nông nghiệp Thái, ai cũng biết câu tục ngữ: “Mí nặm chắng pên na//Mí na chắng pên khẩu (Có nước mới có ruộng//Có ruộng mới nên cơm). Với những chân ruộng quanh năm có đủ nước tưới, thì việc canh tác mỗi năm 2 vụ lúa là điều mà hộ nông dân nào cũng muốn vì nhờ đó mà đảm bảo phần lương thực cho gia đình.

Bắt đầu từ nhận thức về vai trò quan trọng của nước trong sản xuất nông nghiệp, nhất là với việc gieo trồng lúa nước, đồng bào Thái đầu tư rất nhiều sức người, sức của (và tất nhiên cả trí tuệ) để có được những thửa ruộng bội thu. Trong hàng loạt những nỗ lực ấy, mương, phai, lái, lịn là những công trình thủy lợi đắc dụng cho việc tưới tiêu hiệu quả và tiện ích. Có người cho rằng công trình “dẫn thủy nhập điền” là một thành tựu văn hóa vật chất độc đáo, thể hiện không chỉ kinh nghiệm, tính cần cù mà còn nói lên tinh thần chiến thắng thiên nhiên của đồng bào Thái.

 

Mùa vàng Mường Thanh.

Trong câu chuyện với chúng tôi, bà Dương Thị Chung, Phó trưởng phòng phụ trách, Phòng Nghiệp vụ Văn hóa, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh tỏ ra tâm đắc khi viện dẫn một tài liệu quý do 2 Giáo sư là Ðinh Xuân Lâm và Ðặng Nghiêm Vạn thực hiện. Theo đó, “cư dân” nông nghiệp đầu tiên của vùng đất Mường Thanh chính là nhân vật thần thoại ải Lậc Cậc (người khổng lồ). Ban đầu, ải Lậc Cậc cùng vợ xuống khai phá đất Mường Thanh, ải làm lều ở bản Ta Lét (nay là xã Núa Ngam, huyện Ðiện Biên). Lều ải làm sát mặt đất vì không sàn nào chịu nổi sức nặng của 2 vợ chồng ải. Lều ải cao tới tận trời xanh vì ải cao đến trên bảy tám ngàn sải. Mỗi lần ải gánh tro than, lúc đổ xuống mỗi bên thành một trái núi; ải lấy Mường Thanh làm ruộng mạ, vỡ đất Mường Lò, Mường Than, Mường Tấc để cày cấy. Ðường cày của ải đủ để ngựa phi, ruộng cấy của ải đủ chỗ cho 20 con trâu lồng. Vết tích đường cày chính là khe thung lũng chạy dọc suốt từ Mường Vạt lên Mường La tới Mường Muổi (Sơn La). Sáng ải cấy ở Mường Thanh, chiều đã về Mường Tấc (Phù Yên, tỉnh Sơn La). Trưa nghỉ, ải đồ xôi ở Mường Than (huyện Than Uyên, tỉnh Hoàng Liên Sơn cũ). Nay ở đó còn sót lại 3 ông đồ rau, chính là 3 trái núi chụm lại. Một hôm, đang cày ở Mường Lò (huyện Văn Chấn, Hoàng Liên Sơn), thấy trâu ăn mạ ở Mường Thanh, ải lấy nắm xôi nướng ném đuổi. Nắm xôi nay thành núi xôi nướng (Pú Khẩu Chí) ở xã Sam Mứn (huyện Ðiện Biên)... Khi về Mường Thanh, ải vô ý đánh rơi hòn đá lửa, ải lấy chân gạt tìm ở sông Nậm Rốm. Vì vậy mà ngày nay sông Nậm Rốm chỉ có đá ở hai đầu, khúc giữa đoạn chảy qua thung Mường Thanh thì toàn đất và cát.

Tước bỏ lớp vỏ ngoài huyễn hoặc mang đặc trưng huyền thoại, chúng ta thấy hiện ra một dân tộc mà các nhà văn hóa gọi là những cư dân đại diện cho nền văn minh thung lũng bởi bà con dân tộc Thái có nhiều kinh nghiệm trong việc chinh phục nguồn nước tự nhiên, các công trình thuỷ lợi như: mương phai, ống máng, guồng cọn hoặc máy cán bông và cối gạo nước... là những bằng chứng cho kết luận trên. Sản phẩm tiêu biểu và đặc sắc của nền nông nghiệp Thái là cơm lam, nếp cẩm, nếp tan; toàn những thứ đã thơm lại dẻo, đã dẻo lại bùi. Ðặc điểm cư trú nổi bật của đồng bào Thái là dọc các thung lũng vùng thấp, nơi có nhiều sông suối ao hồ. Trên thực tế, đồng bào Thái dù sống ở vùng nào cũng tỏ ra vừa giỏi chài lưới ngoài sông, ngoài suối, lại rất thạo việc đánh bắt trong đồng ruộng. Nhờ vậy, bữa ăn hàng ngày của bà con được tăng cường dinh dưỡng do chính các hoạt động sông nước đem lại.

Tín ngưỡng của đồng bào Thái có nhiều hoạt động liên quan đến sông nước, đó là Hội đua thuyền được tổ chức vào đầu mùa xuân hàng năm, là tục gội đầu bằng nước gạo chua chiều tất niên (tết âm lịch) của phụ nữ Thái, là lễ cầu mưa, lễ cúng cơm mới tổ chức ở từng gia đình nông dân... Ðặc biệt câu cách ngôn nổi tiếng mà nhiều người chúng ta thuộc lòng: “Xá ăn theo lửa, Thái ăn theo nước, Mông ăn theo sương mù”, phản ánh một cách sinh động và cơ bản nền văn hóa thuần khiết Folklore của một tộc người. Những tri thức và niềm tin tín ngưỡng của nhân dân Thái xung quanh nền nông nghiệp lúa nước, được coi là nét văn hóa thú vị, đa dạng và còn nhiều điều tiềm tàng. Những tri thức này không chỉ giúp người Thái khai thác một cách hợp lý, hiệu quả diện tích đất canh tác để phục vụ cuộc sống, mà còn góp phần tạo ra bản sắc riêng cho một nền văn hóa tộc người với nhiều tinh hoa chưa phát lộ hết...

Thu Loan
Bình luận
Back To Top